Trong nền kinh tế toàn cầu, tiếng Anh đang trở thành chìa khóa giúp nguồn nhân lực trẻ tiếp cận tri thức mới, nâng cao năng lực chuyên môn và mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN (UEB) tiếp tục đẩy mạnh quốc tế hóa chương trình đào tạo ngành Kinh tế Phát triển, tăng tỷ lệ các học phần chuyên ngành đào tạo bằng tiếng Anh để sinh viên sẵn sàng hội nhập và thích ứng với môi trường làm việc toàn cầu.
.jpeg&cache=31536000)
Ngành Kinh tế Phát triển UEB mở rộng đào tạo chuyên ngành bằng tiếng Anh, nâng tầm năng lực hội nhập quốc tế cho sinh viên
Quốc tế hóa chương trình đào tạo: Từ định hướng chính sách đến hành động thực tiễn
Việc mở rộng đào tạo chuyên ngành bằng tiếng Anh tại Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN nằm trong định hướng chung của Nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường hội nhập quốc tế và chuẩn bị nguồn nhân lực thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu. Định hướng này cũng gắn với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục, trong đó Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực ngoại ngữ, thúc đẩy hội nhập quốc tế trong giáo dục và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
UEB không chỉ chú trọng việc trang bị kiến thức chuyên môn mà còn xây dựng môi trường đào tạo giúp sinh viên có khả năng học tập, nghiên cứu và làm việc trong không gian quốc tế. Việc đưa tiếng Anh vào các học phần chuyên ngành chính là một bước chuyển từ việc học ngoại ngữ sang sử dụng ngoại ngữ để học tập và phát triển chuyên môn.
Đối với ngành Kinh tế Phát triển, thuộc Khoa Kinh tế Phát triển UEB, việc sử dụng tiếng Anh trong đào tạo chuyên ngành mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là lĩnh vực nghiên cứu những vấn đề mang tính liên ngành như tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, chính sách công, môi trường, đầu tư và chuyển đổi số. Do đó, thông qua tăng cường các học phần chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh, sinh viên không chỉ được rèn luyện khả năng sử dụng ngoại ngữ mà còn từng bước hình thành tư duy phân tích các vấn đề kinh tế dưới góc nhìn quốc tế, sẵn sàng tham gia vào môi trường học thuật và nghề nghiệp có tính cạnh tranh cao.
Gia tăng tỷ lệ học phần tiếng Anh, mở rộng không gian học tập quốc tế trong chương trình ngành Kinh tế Phát triển
Tỷ lệ tín chỉ được giảng dạy bằng tiếng Anh trong chương trình đào tạo ngành Kinh tế Phát triển trước điều chỉnh đạt 27%, sau điều chỉnh tăng lên 35%, tương đương với 30 tín chỉ bắt buộc và 3 tín chỉ tự chọn đối với từng chuyên ngành. Các học phần bằng tiếng Anh được phân bổ xuyên suốt từ khối kiến thức nhóm ngành, khối kiến thức ngành đến các chuyên ngành đào tạo, để sinh viên tiếp cận hệ thống kiến thức kinh tế hiện đại trong môi trường song ngữ, đồng thời đạt chuẩn đầu ra ngoại ngữ tối thiểu B2 theo CEFR (tương đương bậc 4 VSTEP hoặc IELTS 5.5).
Các học phần giảng dạy bằng tiếng Anh được bổ sung theo từng định hướng chuyên ngành, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của người học:
– Với chuyên ngành Kinh tế du lịch và dịch vụ (Tourism and Services Economics), sinh viên được học các học phần như Marketing du lịch (Tourism Marketing), Địa lý kinh tế (Economic Geography), Phân tích du lịch (Tourism Analysis), qua đó phát triển khả năng phân tích thị trường và xu hướng du lịch quốc tế.
– Với chuyên ngành Kinh tế Tài nguyên, Môi trường và Bất động sản (Economics of Natural Resources, Environment and Real Estate), các học phần Kinh tế tài nguyên (Natural Resource Economics), Kỹ thuật phân tích và lượng giá môi trường (Analysis Techniques and Evaluation in Environment), Marketing bất động sản (Real Estate Marketing) giúp sinh viên tiếp cận các vấn đề phát triển bền vững và quản lý nguồn lực theo góc nhìn toàn cầu.
– Với chuyên ngành Phân tích dữ liệu kinh tế và chính sách (Data Analysis for Economics and Policy), sinh viên được trang bị năng lực phân tích định lượng thông qua các học phần như Kinh tế lượng ứng dụng (Applied Econometrics), Ra quyết định đa tiêu chuẩn trong kinh tế (Multi-criteria Decision Making in Economics), Phân tích năng suất hiệu quả (Productivity and Efficiency Analysis).
– Với chuyên ngành Kinh tế đầu tư và phát triển (Investment Economics and Development), các học phần Kinh tế đầu tư (Investment Economics), Quản lý dự án đầu tư (Investment Project Management), Chính sách công (Public Policy) giúp sinh viên hiểu sâu hơn về quá trình hoạch định và triển khai các chính sách, dự án phát triển.
– Với chuyên ngành Hệ thống thông tin kinh tế và khoa học dữ liệu (Economic Information System and Data Science), các học phần Tin học ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh nâng cao (Advanced Applied Informatics in Economic and Business), Khai phá dữ liệu (Data Mining), Tin học trong thương mại điện tử (Informatics in E-Commerce) mở rộng khả năng ứng dụng công nghệ trong phân tích kinh tế.
.png&cache=31536000)
Ngành Kinh tế Phát triển UEB gia tăng tỷ lệ học phần giảng dạy bằng tiếng Anh, giúp sinh viên nâng cao năng lực học tập, nghiên cứu và phát triển trong môi trường quốc tế
Bên cạnh đó, sinh viên còn có cơ hội tiếp cận các học phần bổ trợ như Kinh tế học phát triển bền vững và biến đổi khí hậu (Economics of Sustainable Development and Climate Change), Trực quan hóa dữ liệu (Data Visualization), cùng các học phần thay thế khóa luận tốt nghiệp như Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu kinh tế Phát triển (Research Methods and Techniques in Development Economics) và Kinh tế Phát triển chuyên sâu (Intermediate Development Economics).
Sinh viên ngành Kinh tế Phát triển UEB trưởng thành trong môi trường đào tạo chuẩn quốc tế
Với vị thế là cơ sở đào tạo kinh tế hàng đầu Việt Nam, VNU-UEB tiếp tục khẳng định uy tín học thuật khi xếp trong nhóm Top 301 – 350 thế giới lĩnh vực Kinh tế và Kinh tế lượng theo QS Rankings 2026. Đây là nền tảng quan trọng để Nhà trường tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo và mang đến cho sinh viên những trải nghiệm học tập gắn với tri thức toàn cầu.
Không chỉ tiếp cận các học phần chuyên ngành bằng tiếng Anh, sinh viên ngành Kinh tế Phát triển còn có cơ hội tham gia vào các sân chơi học thuật về kinh tế, các dự án nghiên cứu khoa học cùng giảng viên, cũng như từng bước tiếp cận hoạt động công bố khoa học trong nước và quốc tế.
.jpeg&cache=31536000)
Sinh viên ngành Kinh tế Phát triển UEB tham gia Dự án Hợp tác quốc tế và công bố kết quả nghiên cứu trên Tạp chí SCOPUS
Bên cạnh đó, thông qua các diễn đàn, hội thảo quốc tế do Khoa Kinh tế Phát triển đảm nhiệm vai trò chuyên môn hoặc chủ trì tổ chức, sinh viên được rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường học thuật, đồng thời tiếp cận trực tiếp các vấn đề kinh tế đương đại như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, thị trường các-bon, tăng trưởng kinh tế và mô hình hợp tác giữa nhà trường – doanh nghiệp.
.jpeg&cache=31536000)
Sinh viên ngành Kinh tế Phát triển tham dự các hội thảo quốc tế, trao đổi cùng chuyên gia, nhà nghiên cứu và đại diện doanh nghiệp, rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường học thuật
Môi trường đào tạo tại UEB cũng mở rộng không gian giao lưu quốc tế cho sinh viên thông qua các chương trình trao đổi, kết nối với sinh viên quốc tế, các lớp học chuyên ngành có sự tham gia giảng dạy của giảng viên, chuyên gia nước ngoài.
.jpeg&cache=31536000)
Sinh viên ngành Kinh tế Phát triển UEB trao đổi học thuật với các chuyên gia quốc tế đến từ Ba Lan, Anh Quốc
Cùng với đó là các hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp, thực tập tại doanh nghiệp, tổ chức kinh tế – xã hội và các cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách.
.jpeg&cache=31536000)
Sinh viên ngành Kinh tế Phát triển UEB trực tiếp trải nghiệm môi trường làm việc thực tế tại doanh nghiệp theo đúng chuyên ngành
Từ giảng đường đến các diễn đàn học thuật, từ nghiên cứu đến trải nghiệm nghề nghiệp, sinh viên ngành Kinh tế Phát triển, Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN được trang bị một hành trang toàn diện gồm kiến thức kinh tế hiện đại, năng lực ngoại ngữ chuyên ngành, tư duy nghiên cứu và khả năng thích ứng trong môi trường quốc tế. Đây chính là bước đệm quan trọng để các cử nhân Kinh tế Phát triển tự tin tham gia thị trường lao động toàn cầu, tiếp tục học tập ở các bậc cao hơn hoặc đóng góp vào quá trình hoạch định các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai.